NÊN BIẾT ĐIỀU NÀY TRƯỚC KHI DẪN NGƯỜI YÊU VÀO NHÀ NGHỈ DỊP 14/2

Không ít người vì tình yêu mà bị xử phạt hành chính, thậm chí vướng vào vòng lao lý chỉ vì không nắm rõ quy định của pháp luật. Đặc biệt, dịp lễ tình nhân (ngày 14/2 hằng năm) nhiều cặp yêu nhau vào nhà nghỉ để thể hiện tình cảm và gặp phải rủi ro pháp lý vì không biết luật.

Để tránh những sự cố đáng tiếc từ những những thân yêu của chúng ta gây ra TAPHALAW xin được chia sẻ bài viết này nhằm để mọi người lưu ý về mặt pháp lý cũng như tránh được các rủi ro pháp lý có liên quan.

Thứ nhất: Chúng ta nên thực hiện đầy đủ 03 Bước trước khi quan hệ tình dục.

Bước 1. Xác định tuổi của bạn tình

1.1  Nếu nhỏ hơn 13 tuổi thì “nói không với quan hệ tình dục”. Nếu quan hệ tình dục (dù bạn tình tự nguyện) sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh Hiếp dâm trẻ em.

“Điều 112. Tội hiếp dâm trẻ em

…

4. Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ em và người phạm tội bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.”

1.2  Nếu nhỏ hơn 16 tuổi thì “nói không với quan hệ tình dục”. Nếu quan hệ tình dục (dù

bạn tình tự nguyện) sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh Giao cấu với trẻ em.

“Điều 115. Tội giao cấu với trẻ em

1.  Người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2.  Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Có tính chất loạn luân;

d) Làm nạn nhân có thai;

đ) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội.”

 1.3  Nếu từ đủ 16 tuổi trở lên thì “có thể quan hệ tình dục” nhưng phải làm tiếp Bước số 2 và Bước 3.

Slogan number 1:  “DÙ ĐÚNG HAY SAI, GÁI CHƯA MƯỜI SÁU LÀ TRAI ĐI TÙ”

Bước 2. Xác định sự tự nguyện của bạn tình

2.1  Nếu bạn tình miễn cưỡng thì “nói không với quan hệ tình dục”. Nếu quan hệ tình dục trong lúc bạn tình miễn cưỡng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh Cưỡng dâm.

“Điều 113. Tội cưỡng dâm

1. Người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ  ba năm đến mười năm:

a) Nhiều người cưỡng dâm một người;

b) Cưỡng dâm nhiều lần;

c) Cưỡng dâm nhiều người;

d) Có tính chất loạn luân;

đ) Làm nạn nhân có thai;

e) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương  tật từ 31% đến 60%;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội  thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười tám  năm:

a) Gây tổn hại cho sức khoẻ của  nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

c) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4. Cưỡng dâm người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành  nghề hoặc làm công việc nhất định từ một  năm đến năm năm.”

2.2  Nếu bạn tình không muốn thì “nói không với quan hệ tình dục”. Nếu quan hệ tình dục trong lúc bạn tình không muốn (trái với ý muốn của bạn tình) sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh Hiếp dâm.

“Điều 111. Tội hiếp dâm

1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

c) Nhiều người hiếp một người;

d) Phạm tội nhiều lần;

đ) Đối với nhiều người;

e) Có tính chất loạn luân;

g) Làm nạn nhân có thai;

h) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật  từ 31% đến 60%;

i) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân:

a) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

c) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4. Phạm tội hiếp dâm người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.

5.  Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

2.3  Nếu bạn tình hoàn toàn tự nguyện thì “có thể quan hệ tình dục” nhưng phải làm nốt việc số 3.

 Slogan number 2: “MIỄN CƯỠNG KHÔNG HẠNH PHÚC, LÚC NHÚC LÀ ĐI TÙ”

Bước 3. Tránh trường hợp vi phạm chế độ một vợ một chồng

3.1  Bị truy cứu trách nhiệm hình sự với Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng trong trường hợp sau:

– Hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng gây hậu quả nghiêm trọng.

Hậu quả nghiêm trọng có thể là làm cho gia đình của một hoặc cả hai bên tan vỡ dẫn đến ly hôn, vợ hoặc chồng, con vì thế mà tự sát, v.v…

– Người vi phạm chế độ một vợ, một chồng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

(Căn cứ điểm 3.2 khoản 3 Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC).

3.2  “Chung sống như vợ chồng với người thứ ba” là vi phạm chế độ một vợ, một chồng

  • Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình.
  • Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung; [HÃY DÙNG BIỆN PHÁP TRÁNH THAI trong trường hợp này]
  • Được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng;
  • Có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó…
“Điều 147. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

2. Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.”

Slogan number 3: “ĐỪNG VÌ MỘT CHÚT SUNG SƯỚNG MÀ BƯỚC VÀO NHÀ TÙ NHIỀU NĂM”

 

Thứ hai là: Biết cách chứng minh không phải mua, bán dâm khi bị công an kiểm tra.

Về nguyên tắc, trước khi công an xử phạt người mua dâm, bán dâm thì phải chứng minh người đó có thực hiện hành vi mua dâm, bán dâm. Tuy nhiên, người bị nghi ngờ nên hợp tác cùng công an, có thể tự chứng minh mình không vi phạm… Như vậy, sẽ hạn chế tối đa sự “oan sai” và mọi việc sẽ “dễ chịu” cho các bên.

– Khoản 1, 2, 3 Điều 3 Pháp lệnh phòng, chống mại dâm năm 2003 giải thích như sau: “(1) Bán dâm là hành vi giao cấu của một người với người khác để được trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác; (2) Mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người bán dâm để được giao cấu; (3) Mại dâm là hành vi mua dâm, bán dâm”.

Như vậy, chỉ cần chứng minh quan hệ trên không có yếu tố “trả/nhận tiền hoặc lợi ích vật chất khác” thì không bị coi là mua, bán dâm.

Lưu ý quan trọng: Cần mang một trong các loại giấy tờ sau: Giấy chứng minh nhân dân; Căn cước công dân; Hộ chiếu; Thẻ thường trú hoặc Thẻ tạm trú (đối với người nước ngoài); các loại giấy tờ có dán ảnh do các cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam cấp để xuất trình cho chủ nhà nghỉ, khách sạn; công an (khi được yêu cầu) và tuân thủ đúng các quy định tại Điều 44 Nghị định 96/2016/NĐ-CP.

Trên đây là bài viết mang tính tham khảo của bộ phận  Legal team TAPHALAW  về những thắc mắc mà quý khách hàng gặp phải. Mục đích của bài viết là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung bài viết có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung trên khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. 

 

Bientapvien.

 

 

 

 

 

 

 

Liên hệ

Trao đổi với luật sư Taphalaw

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ tư vấn và giải đáp thắc mắc của bạn nhanh nhất.

Hotline tư vấn0972 633 633
  • Văn phòng TP. Hồ Chí MinhSố 7 Nguyễn Văn Trỗi, Phường Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh(84-28) 3995 9396 – 3995 9545
  • Văn phòng Công chứng Ta Pha123 Đường 9A, KDC Trung Sơn, xã Bình Hưng, TP. Hồ Chí Minh
  • Văn phòng Hà NộiTầng 3, số 100 Phố Lò Đúc, Phường Hai Bà Trưng, Hà Nội

Gửi yêu cầu tư vấn

    Zalo